Họ nói gì về chính sách thuế của Việt Nam hiện nay


            Trên trang mạng gần đây có bài viết: “Dân đóng thuế thì hưởng được gì?” Bài viết đặt vấn đề: “Theo các nhà kinh tế học, dân đóng thuế thì mặc nhiên được hưởng các loại phúc lợi cơ bản như y tế, giáo dục, giao thông. Nôm na là nhiều dịch vụ công cộng phải được miễn phí. Theo dõi một số quốc gia phát triển, rõ ràng nguồn thuế thu được đảm bảo chi phúc lợi như vậy. Song, ở ta, dân kêu trời các loại đóng thuế và thu phí dịch vụ công cộng đã khàn cổ từ lâu. Công chức, viên chức thì lương chỉ hơn 4,5 triệu/tháng đã phải đóng thuế thu nhập cao, nhưng không dám kêu vì sợ bị đuổi việc”. “Những tưởng số tiền chi từ thuế của dân thì dân ắt phải được thụ hưởng phần nào bằng cách miễn giảm chi phí các loại. Nhưng thật xót xa khi dân chẳng được thụ hưởng gì ngoài cái cảm giác bị cắt cổ nhổ lông thêm lần nữa”. Bài viết phàn nàn: “Chính Bộ Giáo dục và Đào tạo ra chủ trương tăng giá sách giáo khoa, tăng luôn học phí gấp bốn năm lần, cả trường công lẫn trường tư, thì không thể tưởng tượng nổi đó là giáo dục hay buôn lậu?”.

            Tôi muốn trao đổi với tác giả bài viết trên về vấn thuế: Ở Việt Nam không có chuyện như bài viết đã mô tả. Người dân hiểu rằng, đóng thuế là bổn phận của mình đối với Nhà nước và người dân trên thực tế đã tình nguyện đóng thuế.

            Thuế là khoản tiền mà dân cư, các tổ chức, các công ty, nhà máy, xí nghiệp, thương mại,… bắt buộc phải nộp cho Nhà nước. Bản chất kinh tế – xã hội của thuế, công dụng và vai trò của thuế trong đời sống kinh tế và chính trị của xã hội là do chế độ xã hội quyết định. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thuế là một trong những phương tiện để phân phối và phân phối lại có kế hoạch một phần thu nhập quốc dân phù hợp với các nhiệm vụ xây dựng xã hội, nhằm kiến thiết xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

            Nhìn lại 36 năm đổi mới (1986-2022), vấn đề thuế ở Việt Nam được cải cách từng bước, đồng bộ. Chính sách thuế nằm trong chính sách chung của Nhà nước, bảo đảm sự gắn kết giữa đổi mới về chính sách thuế với các chính sách khác. Ngày 17-5-1911, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 732/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Từ đấy đến nay, vấn đề nộp thuế được quản lý khá chặt chẽ, bám sát các mục tiêu, định hướng đề ra trong Chiến lược này, làm cho hệ thống thuế của Việt Nam được cải cách toàn diện, cấu trúc ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Điểm nổi bật là sự kết hợp là công tác cải cách chính sách thuế luôn gắn với việc đẩy mạnh cải cách về quản lý thuế. Công tác quản lý thuế ngày càng được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi và giảm chi phí, thời gian cho đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế, nhất là từ khi Luật Quản lý thuế, số 78/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI được triển khai áp dụng từ năm 2007. Theo đó, phương thức quản lý thuế đã được chuyển sang chế độ tự khai, tự nộp, qua đó, đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế và cơ quan thuế.

            Trong giai đoạn 2010-2020, Luật Quản lý thuế đã được bổ sung, sửa đổi vào các năm 2012, 1014, 2016,2019, theo hướng đơn giản hóa quy trình, thủ tục nộp thuế, giảm tần suất kê khai thuế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, giảm chi phí quản lý hành chính thuế; đồng thời, tăng cường vai trò kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý thuế, giám sát xã hội của công tác quản lý thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ quy định pháp luật về thuế, cũng như việc xử lý các hành vi vi phạm luật và chính sách về thuế.

            Kể từ ngày 1-7-2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, số 21/2012/QH13 đã giảm tuần suất kê khai thuế giá trị gia tăng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn giải quyết đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau”; đồng thời, bổ sung thêm nguyên tắc quản lý rủi ro trong công tác quản lý thuế và định rõ nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển phương thức quản lý thuế điện tử, cũng nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đối với việc nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh. Năm 1014, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục kê khai thuế, giảm áp lực cho doanh nghiệp và cơ quan thuế. Cùng với đó, hệ thống các văn bản nhằm thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử được ban hành và triển khai áp dụng, như Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP, ngày 12-9-2018, quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 68/2019/TT-BTC, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP, đã giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro về quản lý hóa đơn, giảm chi phí sử dụng hóa đơn, thủ tục hành chính và tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và lành mạnh.

            Ngày 13-6-2019, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật quản lý thuế (số 38/2019/QH14) và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020 thay thế cho Luật Quản lý thuế 78/2006/QH12. Luật số 38/2019/QH14 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, tạo nền tảng thay đổi căn bản công tác quản lý thuế của Việt Nam, như luật hóa quy định về hóa đơn điện tử, mở rộng quyền cho người nộp thuế; quy định về phân loại hộ kinh doanh lớn, bổ sung quy định về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho đại lý thuế; bổ sung các quy định để tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử; đồng thời, các quy định về thành tra, kiểm tra thuế cũng được hoàn thiện phù hợp với các chính sách khác về thuế của Chính phủ, nhờ đó mà tần suất kê khai nộp thuế, bảo hiểm xã hội giảm từ 32 lần năm 2015 xuống còn 6 lần năm 2020. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 2011-2020, tổng thời gian nộp thuế của Việt Nam giảm từ 650 giờ xuống còn 237 giờ, giảm được 413 giờ, tương đương giảm 63,5% thời gian nộp thuế, góp phần tăng mức độ thuận lợi về thuế của Việt Nam từ thứ hạng 147 lên 109, tăng 38 bậc. Việt Nam được đánh giá là 1 trong 4 quốc gia của khu vực Đông Nam Á có sự cải tiến vượt bậc về nghĩa vụ nộp thuế…

            Các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế từng bước được tự động hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt, các quy trình có liên quan trực tiếp đến người nộp thuế. Đến nay, cơ quan thuế đã tiếp nhận và trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính của người nộp thuế bằng điện tử trong quá trình nộp thuế ở tất cả các khâu: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, giải quyết hồ sơ hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quá trình nộp thuế trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước tiếp cận với yêu cầu quản lý thuế hiện đại, khuyến khích, thúc đẩy người nộp thuế tuân thủ pháp luật; đã hình thành các cơ chế để phân loại người nộp thuế còn nợ thuế và số thuế nợ đọng của người nộp thuế, làm căn cứ xây dựng, áp dụng các biện pháp thu hồi nợ thuế phù họp, hiệu quả, nhờ đó, tỷ lệ tổng nợ thuế so với tổng thu ngân sách đã giảm dần.

            Việc thực hiện mô hình tổ chức bộ máy ngành thuế trên cơ sở kết hợp giữa việc quản lý theo chức năng và theo đối tượng từ trung ương đến địa phương cũng đã góp phần tăng cường khả năng thu thuế, tinh gọn đầu mối, phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế.

Các hoạt động hợp tác, phối hợp với các cơ quan thuế, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế được triển khai và tăng cường, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cũng như đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, bảo đảm kinh tế quốc tế sâu rộng.

            Mặt hạn chế hiện nay qua nghiên cứu của giới chuyên gia về thuế và của chúng tôi, thấy rõ sự chưa đồng bộ, chưa tương ứng, chưa ổn định về quy trình quản lý thuế, ảnh hưởng đến việc quản lý thuế hiện nay; vấn đề nợ đọng thuế tuy đã giảm so với trước, nhưng vẫn còn cao; cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế hiện nay còn chưa đầy đủ; người nộp thuế chưa thấy đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình cho Nhà nước; công tác tuyên truyền, cổ động về thuế còn chìm lắng.

            Cũng theo giới chuyên gia nghiên cứu về thuế và của chúng tôi, thì định hướng cải cách công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới là nên rà soát toàn bộ các chính sách về thuế, trên cơ sở Luật Quản lý thuế số 38, thấy điểm gì cần bổ sung thì bổ sung, cần sửa chữa thì sửa chữa; ban hành đồng bộ các văn bản hướng dân để tổ chức tốt Luật Quản lý thuế mới, bảo đảm thu đúng, thu đủ và khắc phục các tồn tại, bất cập trong thực hiện về thu thuế; thực hiện cải cách tổng thể hệ thống thuế, phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế quốc dân; trên cơ sở công nghệ thông tin mà hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật của Việt Nam; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ, toàn diện về thuế, bảo đảm việc quản lý thuế được chặt chẽ, khắc phục tình trạng tham nhũng về thuế; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người thu thuế và người nộp thuế; biểu dương, khen thưởng những người cố công trong công tác thu thuế và những người nộp thuế đầy đủ, đúng kỳ hạn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho vấn đề thuế và nộp thuế nổi lên mà không bị chìm đi.

            Trên đây là những vấn đề cơ bản về thuế, những việc đã làm được về thuế, những hạn chế và phương hướng phấn đấu. Những vấn đề trên, về cơ bản, đã được phản ánh trên internet, thể hiện chính sách thuế của Nhà nước ta là đúng đắn, phù hợp với ý nguyện của nhân dân, mặc dù trước mắt còn nhiều việc về thuế phải làm.

            Ai đó, phàn nàn về chính sách thuế của Nhà nước ta là không đúng với thực trạng về những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.

ĐĐV.

 

Không có nhận xét nào

Được tạo bởi Blogger.