Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Lời hịch của non sông đất nước

    Cứ đến tháng 12, dân tộc Việt Nam lại được sống lại trong khí thế của những ngày toàn quốc kháng chiến lịch sử. Đã 75 mùa đông trôi qua nhưng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn mãi ngân vọng trong chiều dài lịch sử dân tộc như nhắc nhở đời sau về tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường gìn giữ non sông.


    Lời hịch cứu nước

    Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Song, chính quyền cách mạng non trẻ cũng đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc bao gồm giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm. Tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”.

    Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng đã nổ súng đánh ta ở Nam bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam bộ và Nam Trung bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác, chủ động đàm phán với Pháp để tránh cuộc chiến tranh, giữ hòa bình cho cả hai dân tộc, giữ độc lập tự do cho Tổ quốc, rồi ký Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, sau đó ký Tạm ước ngày 14/9/1946. Nhưng mọi nỗ lực vì hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đều không đi đến kết quả. Giặc Pháp điên cuồng đánh phá các tỉnh phía Bắc, trong đó có Thủ đô Hà Nội và tuyên bố: chậm nhất sáng 20/12/1946, quân Pháp sẽ hành động.

    Trước tình hình đó, ngày 18 và 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc. Vào hồi 20h ngày 19/12/1946, quân dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch.

    Mở đầu Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu thiện chí hoà bình của Việt Nam, nhưng bị phía Pháp khước từ và họ quyết chọn con đường vũ trang xâm lược: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Người khẳng định rõ ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Khi Tổ quốc lâm nguy, Người kêu gọi các giới đồng bào cả nước bằng vũ khí và mọi loại dụng cụ có thể dùng làm vũ khí, nhất tề đứng lên đánh giặc: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Mục đích cuộc kháng chiến là “Việt Nam độc lập và thống nhất…”. Kết thúc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Người truyền niềm tin thắng lợi cho toàn dân, toàn quân ta “Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

    Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngắn gọn, súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Lời kêu gọi đã phát huy tinh thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư của tổ tiên ta thuở trước; là sự thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia. Đó là lời của Tổ quốc, của dân tộc thiết tha kêu gọi con Lạc, cháu Hồng đứng lên giữ nước; đồng thời, cũng là lời tuyên bố đanh thép với bọn thực dân cướp nước về ý chí, sức mạnh của dân tộc Việt Nam.

    Bác Hồ gọi, cả non sông đáp lời

    Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo như “Ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu, từng chữ trong Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi vũ khí có sẵn, với một ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

    Đáp Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân, toàn quân ta nhất tề đứng lên kháng chiến. Thủ đô Hà Nội - nơi có cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, cũng là nơi đối phương đặt bộ chỉ huy xâm lược đã trở thành chiến trường chính. Ngay đêm 19/12/1946, ánh đèn trên các đường phố vụt tắt, tiếng súng kháng chiến bắt đầu. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Thủ đô đã bám trụ từng ngôi nhà, góc phố, dựng chướng ngại vật chủ động tấn công quân Pháp, bao vây, giam chân chúng ở Thủ đô. Hình tượng những chiến sĩ Cảm tử quân Hà Nội “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mãi mãi là biểu tượng bất tử về một cuộc chiến tranh Nhân dân mà mỗi người dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh tất cả vì Tổ quốc.

    Quân và dân các thành phố, thị xã khác cũng đã kịp thời đứng lên chiến đấu, đã giáng đòn nặng vào chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, làm cơ sở bảo vệ an toàn cho Trung ương và Chính phủ, đồng thời di chuyển các cơ quan, kho tàng về chiến khu an toàn. Phối hợp với cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc, quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kế hoạch bình định, kiềm chế không cho địch đưa lực lượng và tài sản chiếm được ở phía Nam ra đánh ở Trung và Bắc Bộ.

    Với niềm tin tất thắng, quân dân ta đồng sức, đồng lòng làm nên những chiến công vang dội thay đổi cục diện của cuộc kháng chiến từ thế phòng thủ, sang thế cầm cự giằng co, rồi tiến lên phản công giành thắng lợi. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, Chiến thắng Biên giới Thu - Đông năm 1950, Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” kết thúc 09 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp... là minh chứng tiêu biểu của những chiến thắng từ lòng quả cảm, từ ý chí hàng triệu con tim, từ khối đoàn kết của cả dân tộc qua lời hiệu triệu kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ.

    Hòa cùng dòng chảy lịch sử

    Quán triệt sâu sắc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã chỉ đạo tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng kinh tế hậu phương, phát triển văn hoá - xã hội, chuẩn bị hậu cần tại chỗ để có điều kiện chi viện cho các chiến trường và xây dựng lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu. Tỉnh đã chuyển mọi hoạt động của tỉnh từ thời bình sang thời chiến và chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu. Tính đến đầu năm 1947, toàn tỉnh đã có khoảng 8.000 dân quân, du kích; thành lập Tỉnh đội bộ dân quân; Tiểu đoàn cơ động 73; xây dựng năm đại đội độc lập ở các huyện Hoà An, Nguyên Bình, Thạch An, Trấn Biên (nay là vùng Trà Lĩnh, thuộc huyện Trùng Khánh) và Quảng Uyên (nay thuộc huyện Quảng Hoà), làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích ở các địa phương. Toàn tỉnh đào tạo được 820 cán bộ chỉ huy quân sự các cấp. Vũ khí, trang bị và lương thực chủ yếu vẫn dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân. Thông tin liên lạc giữa tỉnh với Khu ủy Khu I luôn được giữ vững đề phòng khi có chiến sự xảy ra.

    Nhiều địa phương như Hạ Lang, Quảng Uyên đã có sáng kiến tổ chức các hội nghị bô lão nhằm kêu gọi nam nữ thanh niên địa phương hăng hái xung phong gia nhập bộ đội và dân quân, du kích, đẩy mạnh phong trào thi đua tăng gia sản xuất, góp thêm nhiều lương thực, thực phẩm, đồ dùng cho bộ đội và du kích tham gia đánh giặc và sẵn sàng nhận thương binh về nhà chăm sóc. Nhân dân tích cực tiêu thổ kháng chiến. Từ tháng 4 - 10/1947, quân và dân tỉnh Cao Bằng đã phá nhiều đoạn đường, cầu cống trên đường số 4. Trong 10 ngày cuối tháng 9/1947 đã phá 124 nhà tầng của dân và đồn bốt trước đây của giặc Pháp.

    Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần yêu nước cao độ và với truyền thống cách mạng sâu sắc, Cao Bằng đã hình thành thế trận chiến tranh Nhân dân. Toàn tỉnh sục sôi không khí chuẩn bị cho kháng chiến, sẵn sàng và quyết tâm đánh trả quân địch trên nhiều hướng, quyết tâm chiến thắng quân địch khi chúng tấn công lên Cao Bằng, biến “Cao Bằng thành mồ chôn của thực dân Pháp”.

    75 năm đã trôi qua nhưng tinh thần và ý chí quật khởi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn có ý nghĩa và sẽ mãi mãi là động lực tinh thần - ý chí quyết thắng đối với mỗi chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

    Tác giả: Triệu Thị Thu Trang, Trưởng phòng Lý luận chính trị và Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ


 


Không có nhận xét nào

Được tạo bởi Blogger.