LO CHO DÂN TỪ CHUYỆN LỚN ĐẾN CHUYỆN NHỎ, VỚI TẤM LÒNG THƯƠNG YÊU BAO LA
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời
cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cả cuộc đời của Bác vì nước,
vì dân. Lúc sắp ra đi, không màng danh vọng, không ham bia đá, tượng đồng, Bác
vẫn chỉ nghĩ đến “Đầu tiên là công việc đối với con người” và không quên căn
dặn “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
Hơn 50 năm qua, từng câu, từng chữ trong bản
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh như vẫn vẹn nguyên “muôn vàn tình thân yêu”
gửi lại toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và
nhi đồng.

Chính tinh thần yêu nước, khát vọng giải phóng
dân tộc đã hòa cùng bầu nhiệt huyết và ý chí kiên cường của tuổi trẻ để trở
thành nguồn sức mạnh nội lực, thắp sáng chặng đường bôn ba tìm đường cứu nước
của Người. Đi qua nhiều châu lục, vừa kiếm sống vừa khảo nghiệm thực tiễn và
lựa chọn con đường cứu nước, Người đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, đến với con
đường cách mạng vô sản để theo đuổi mục tiêu cao nhất là giải phóng con người,
làm cho con người phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Vấn đề giải phóng dân tộc và con người còn
được thể hiện sâu sắc trong tổ chức lực lượng cách mạng và trong chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dưới sự chỉ đạo của Người, Hội nghị Trung ương
Đảng lần thứ 8 (năm 1941) chủ trương chuyển hướng trong chỉ đạo chiến lược, đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trung tâm và cao hơn hết thảy, nhưng
trong Chương trình Việt Minh vẫn thể hiện rõ việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ
dân tộc - con người.
Đó là: “Thực hiện hai điều mà toàn thể đồng
bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho
dân Việt Nam được sung sướng; tự do”. Khơi dậy nguồn lực mạnh mẽ nhất của dân
tộc - chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam và lợi ích của các giai tầng xã
hội, của mỗi con người là thống nhất với lợi ích dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thành công trong việc tập hợp hết thảy các lực lượng yêu nước, đoàn kết toàn
thể nhân dân Việt Nam tạo nên lực lượng cách mạng vô cùng to lớn để giành thắng
lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
với Tiêu ngữ: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.
Tiêu ngữ này một lần nữa khẳng định rằng với
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổ quốc và nhân dân là một. Với tiêu ngữ ấy, năm 1946,
với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, vị lãnh tụ muôn vàn
kính yêu của chúng ta đã trả lời các nhà báo nước ngoài về mục đích cuộc sống
mà Người theo đuổi là: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Nói chuyện với đồng bào trước khi sang thăm
Pháp (30/5/1946), Người cũng khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là
phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân... Bất kỳ bao giờ,
bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.
Là lãnh tụ của dân tộc, là người đứng đầu Đảng
và Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ trách nhiệm của cá nhân
là lo cho dân, cho nước từ những việc lớn đến việc nhỏ: Từ việc tìm đường cứu
nước, giải phóng dân tộc, bảo vệ, đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng, phát
triển mọi mặt xã hội, đến việc tương, cà, mắm, muối… để thoả mãn các nhu cầu
thiết yếu nhất của nhân dân, để mọi người đều có cơm ăn, có áo mặc, có chỗ ở,
được học hành, có điều kiện khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ.
Tinh thần cao cả ấy của Người luôn nhất quán
trong bất cứ lúc nào và ở bất cứ hoàn cảnh nào: Vào những ngày đầu của Cách mạng
tháng Tám, do hậu quả của chính sách bóc lột của phát xít Nhật, Pháp mà hơn 2
triệu đồng bào ta bị chết đói. Tự đáy lòng chân thành của một vị lãnh tụ cách
mạng suốt đời vì nước, vì dân, tự trái tim giàu nhân đạo cao cả, bằng những lời
lẽ hết sức cảm động, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào toàn quốc ra
sức cứu đói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta
không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực
hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi
bữa một bơ) để cứu dân nghèo ”.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ở giai đoạn
quyết liệt, Bác đã rút toàn bộ số tiền tiết kiệm trong mấy chục năm viết báo,
được hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền lớn, tương đương với 60 lạng vàng)
để mua nước ngọt cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp
miền Bắc (số tiền của Bác đủ mua nước uống cho bộ đội Phòng không không quân
được 1 tuần). Gặp năm mất mùa, viện trợ khó khăn, cả nước phải ăn độn, Bác đề
nghị và kiên quyết thực hiện ăn độn 30% theo quy định và không đồng ý thay đổi
với bất kỳ lý do gì. Bác cũng không đồng ý nghị quyết của Bộ Chính trị in sách
mừng sinh nhật Bác vì nước nhà còn thiếu thốn, sách học, giấy học cho các cháu
còn thiếu, nên cái gì cần lắm hãy in, để giấy cho các cháu học. Bác không ưa
tiệc tùng, lễ tết rình rang, lãng phí, sinh thời Bác chỉ tổ chức ăn Tết với anh
chị em Văn phòng Phủ Chủ tịch một bữa ăn vào chiều 30 còn tất cả những ngày sau
đó Bác giữ mức sinh hoạt bình thường. Các dịp lễ tết, điều đầu tiên Bác nghĩ
tới là thăm các gia đình nghèo ở Hà Nội, các trường con em miền Nam, các công
trường đang xây dựng, các nhà máy đang sản xuất, các đơn vị bộ đội, công an
đang trực chiến, khi ở Hà Tây, Hà Bắc, Vĩnh Phú, lúc Hải Phòng, Quảng Ninh...
Bác không quên những việc lớn, cũng không bỏ
sót những việc nhỏ. Nhiều việc nhỏ không ai nhìn thấy trước mà về sau lại có
một tầm quan trọng lớn, như việc chuyên chở muối lên chiến khu dự trữ trong
kháng chiến chống Pháp chẳng hạn. Nhận thức được tầm quan trọng của loại hàng
thiết yếu này nên ngay sau khi kháng chiến bùng nổ ít ngày, Bác đã chỉ thị cho
đồng chí Nguyễn Lương Bằng trực tiếp chịu trách nhiệm công việc chuyên chở
muối. Thực tế đã chứng minh chỉ thị của Bác hoàn toàn đúng đắn khi mấy năm sau
đó, thực dân Pháp chiếm hết các vùng ven biển, muối khan, giá lên cao vọt nhưng
cán bộ, bộ đội, nhân dân ta vẫn có muối đủ dùng từ năm 1947. Đồng bào ở rẻo cao
như Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng vẫn có muối ăn. Việc đó có một ảnh hưởng tốt về
chính trị. Đồng bào miền núi rất biết ơn Chính phủ Cụ Hồ.
Chính tinh thần gắn bó với nhân dân, sự chăm
lo thiết thực đến đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng đã làm cho mối
liên hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ngày càng thêm mật thiết.
Đến thăm trại nhi đồng miền Nam, Bác chú ý đến
cái mương nhỏ mới đào trước cửa phòng học và dặn các cô phụ trách trại phải đào
lại cho thật thẳng, thật ngay, nuôi dạy các cháu, phải chú ý đến những việc như
thế! Mùa hè năm 1960, về thăm Phú Thọ, Bác vào tận nhà dân, quan sát bồ thóc.
Khi thấy hai bồ thóc đầy ắp, ngô, khoai, sắn chất đầy trong góc buồng, Bác hài
lòng không lo dân đói. Năm 1962, về thăm nhân dân xóm Quảng Khánh nằm ven Hồ
Tây, Hà Nội, thấy có cháu bé bị đau mắt nặng, Bác đã dành tiền lương tặng nhân
dân trong xã mua vật liệu xây giếng. Giữa năm 1969, Bác để ý đến việc nhân dân
còn phải xếp hàng dài mua hàng hóa và tình trạng mất trật tự đã lẻ tẻ xảy ra ở
một số cửa hàng, nhất là các cửa hàng bia. Chiều ngày 30/7/1969, Bác đã có cuộc
làm việc với Giáo sư Hoàng Tụy về khả năng vận dụng toán học vào công tác phân
phối hàng tiêu dùng sao cho công bằng, hợp lý, dân chủ và thuận tiện để giảm
bớt khó khăn trong sinh hoạt của nhân dân.
Giáo sư Hoàng Tụy kể lại: "Sau này, khi
thấy Di chúc Bác đề “Ngày 10 tháng 5”, nghĩa là chỉ trước hôm đó vài tháng, tôi
không nén được xúc động. Cho đến những ngày đã cảm thấy không còn bao lâu nữa
phải từ giã chúng ta, Bác vẫn lo cho dân từ cái lớn đến cái nhỏ với một tấm
lòng thương yêu bao la và một tác phong hết sức tỉ mỉ, cụ thể mà ngay một người
mẹ lo cho con trước khi ra đi cũng khó chu tất hơn. Trong lòng tôi tràn ngập
niềm thương kính và biết ơn Bác. Thì ra cái ham muốn duy nhất, ham muốn tột bậc
mà vì nó Bác đã sống, vì nó cuộc đời Bác đã trở nên vô cùng thân thiết đối với
mỗi chúng ta là như thế đấy…".
Trong Di chúc, Bác Hồ căn dặn: “Đảng cần phải
có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng
cao đời sống của nhân dân”. Ở bản thảo tháng 5/1968, Bác đã vạch ra những dự
kiến về việc xây dựng đất nước sau chiến tranh, có tính đến từng đối tượng cụ
thể: Thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ, nông
dân.
Bác đã sử dụng những lời lẽ rất chí tình, với
sự đồng cảm sâu sắc từng đối tượng được nêu trên và đặc biệt là Người đã đánh giá
đúng tinh thần thái độ và sự đóng góp của họ vào công cuộc kháng chiến cứu
nước. Ngay cả với những người được coi là nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Bác
cũng mong muốn “Nhà nước phải vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo
họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”. Quan điểm này thể hiện
rõ lòng nhân ái, đức hiếu sinh, văn hoá khoan dung của Người. Nó cũng chứng tỏ,
sự nghiệp cách mạng mà chúng ta tiến hành thực sự là “chống lại những gì đã cũ
kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Đó là một cuộc cách mạng
chính nghĩa, nhân văn, xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, hợp với
lòng dân, hợp với xu thế của thời đại và thực sự là cuộc hành trình đến những
giá trị văn hóa đích thực nhất.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được công
bố cách đây 52 năm (năm 1969), nghĩa là chúng ta đã có 52 năm thực hiện Di chúc
của Người.
52 năm qua, Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo toàn
dân thực hiện Di chúc và đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa. Trong bối cảnh
hết sức phức tạp do dịch bệnh COVID-19 đã và đang gây ra hiện nay, các cấp
chính quyền, các lực lượng trực tiếp tham gia phòng chống dịch và mọi tầng lớp
nhân dân ta đang nỗ lực ngày đêm sát cánh cùng Chính phủ để kiểm soát, đẩy lùi
dịch bệnh, chăm lo cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tin tưởng rằng,
chúng ta sẽ vượt qua và chiến thắng dịch bệnh nhờ sự góp sức của cả nước, sự
đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân, sự giúp đỡ
chí tình của bạn bè quốc tế, để chúng ta góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung
của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp
tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của đất nước
ta, dân tộc ta.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Đảng ta, nhân dân ta luôn khắc ghi lời Bác dạy, đoàn kết một lòng để chung sức
vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện trọn vẹn điều mong ước
căn dặn của Người./.
Nguồn: Vững tin theo Đảng
Leave a Comment