KIỂM SOÁT TIN GIẢ, THÚC ĐẨY THÀNH CÔNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19
Tin giả
không phải là vấn đề mới trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự
trợ giúp của truyền thông xã hội và gắn với dịch COVID-19, tin giả mới thật sự
trở thành một “đại dịch thông tin” trên thế giới và ở Việt Nam. Tin giả về đại
dịch và phòng, chống dịch COVID-19 có thể xuất phát từ sự vô ý, tùy tiện, thiếu
trách nhiệm hoặc chủ ý của người tạo ra và đưa tin, nhằm phá hoại và trục lợi
về kinh tế, làm cản trở, giảm uy tín, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan và
cả xã hội trong phòng, chống dịch bệnh. Thậm chí, một số báo chí và nhà báo
cũng vô tình hay cố ý bị mắc bẫy tin giả, sản xuất và phát tán tin giả về dịch
bệnh, gây hoang mang trong dư luận xã hội.
Tại
Việt Nam, việc kiểm soát những thông tin sai sự thật liên quan đến phòng, chống
dịch COVID-19 được đánh giá là có hiệu quả. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính
trị và xã hội, cũng như các cơ quan truyền thông trên “mặt trận” chống tin giả
được thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam vẫn đang đứng
trước thách thức rất lớn trước vấn nạn tin giả về dịch COVID-19. Với việc số
lượng người dân tham gia truyền thông xã hội ngày càng đông đảo, với nhiều xu
hướng mức độ thể hiện nhu cầu, điều kiện, kỹ năng và trách nhiệm xã hội khác
nhau. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang có xu hướng gia tăng việc sử dụng tin
giả để chống phá sự ổn định và phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực
và bằng tất cả các phương diện khác nhau, do dó hoạt động phòng, chống tin giả
liên quan đến dịch COVID-19 phải được xác định là mặt trận hàng đầu hướng đến
mục tiêu nhanh chóng chiến thắng đại dịch.
Muốn
hạn chế nguy cơ gia tăng tin giả về dịch COVID-19, cần phải đảm bảo sự thành
công rõ ràng, kịp thời của các biện pháp phòng, chống đại dịch đang được triển
khai. Nếu những kết quả phòng, chống dịch và tình hình dịch COVID-19 được kiểm
soát, có triển vọng tích cực thì các tin giả liên quan, cũng như hệ quả tác
động xã hội tiêu cực của nó sẽ có xu hướng giảm. Mỗi nhà báo và cơ quan báo chí
phải đảm bảo “vai trò mục tiêu kép”, vừa là nhà báo, cơ quan báo chí chuyên
nghiệp tích cực sản xuất, đưa tin về các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19;
vừa là những cá nhân, tổ chức đi đầu trong phòng, chống tin giả liên quan đến
dịch COVID-19. Trong đó, đặc biệt là đảm bảo năng lực, trách nhiệm và tính hiệu
quả của nhà báo, cơ quan báo chí trong kiểm chứng nguồn tin của hoạt động báo
chí. Nhà báo và cơ quan báo chí không chỉ là người phát hiện ra thông tin mà
còn phải có trách nhiệm thẩm định, kiểm chứng và giải thích thông tin. Phát huy
vai trò chủ động, tiên phong, dẫn dắt, định hướng của báo chí chính thống, bảo
đảm chính xác, kịp thời, góp phần ngăn chặn tin giả.
Cần
tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan chức năng có
thẩm quyền, các chuyên gia có uy tín cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ về
tình hình dịch bệnh, và phòng chống dịch COVID-19 trên các phương tiện truyền
thông đại chúng; và đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội được tiếp cận. Tăng
cường thực hiện chính sách “truyền thông an dân” trên các loại hình truyền
thông hướng đến mục tiêu: mọi người dân đều có hiểu biết cơ bản về dịch bệnh;
mọi người dân đều có thái độ bình tĩnh và yên tâm về các biện pháp phòng, chống
dịch; mọi người dân đều chủ động tuân thủ, ủng hộ các biện pháp phòng, chống dịch;
mọi người dân tích cực chấp hành các quy định liên quan đến phòng, chống dịch
COVID-19 của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, các thông điệp về truyền
thông cần thống nhất, dễ hiểu để mọi giai tầng xã hội đều nhận thấy rõ chủ
trương, lộ trình của các biện pháp và mục tiêu phòng, chống dịch COVID-19 của
Đảng và Nhà nước dựa trên bằng chứng: “Biết mình đang ở đâu, khó khăn gì, cần
phải làm gì, những bước thực hiện tiếp theo là gì, các mục tiêu và triển vọng
trung và dài hạn”.
Để đảm
bảo tính kịp thời, hiệu quả, thống nhất trong việc nhận diện, đưa ra các biện
pháp đấu tranh đối với vấn nạn tin giả, cũng như giảm thiểu tác hại xã hội của
tin giả cần tăng cường sự liên thông, phối kết hợp giữa các ban, bộ, ngành,
lĩnh vực, cơ quan và tổ chức trong đấu tranh phòng, chống tin giả nói chung, về
COVID-19 nói riêng. Muốn vậy, cần phải xây dựng cơ chế phối hợp linh hoạt, đặc
thù, đặc biệt nhằm: phản ứng nhanh, kịp thời, chính xác, hiệu lực và hiệu quả.
Cần có quy định cụ thể và rõ ràng về định tính hóa và định lượng hóa những tiêu
chí để “chế tài mạnh tay hơn” đối với mọi hành động và cá nhân, tổ chức có liên
quan đến việc sản xuất tin giả, phát tán tin giả, sử dụng tin giả. Đồng thời,
cần nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống cơ quan chuyên trách tư vấn chính sách và
giải pháp phòng, chống tin giả của quốc gia.
Để
giành thắng lợi trong cuộc chiến chống tin giả về dịch bệnh, không thể bỏ qua
truyền thông xã hội. Bên cạnh những tác động tiêu cực trong việc lan truyền tin
giả về dịch COVID-19, truyền thông xã hội cũng đang đóng một vai trò không thể
thay thế trong việc lan tỏa hiệu ứng thông tin thật, thông tin chính thống kịp
thời đến các nhóm xã hội khác nhau. Thực tế cho thấy, các mạng xã hội đang
chung tay với cơ quan quản lý Nhà nước cập nhật thông tin rõ nguồn gốc, từ cơ
quan chức năng, góp phần đẩy lùi tin giả. Không chỉ là kênh cung cấp thông tin,
truyền thông xã hội còn được sử dụng để lan truyền những thông điệp ý nghĩa đến
cộng đồng hay lên án những hành vi sai trái trong quá trình phòng, chống dịch.
Hệ thống báo chí chính thống, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch
COVID-19 của Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông… đã sử dụng
truyền thông xã hội như một công cụ đắc lực để truyền tải các thông điệp cần
thiết về phòng, chống dịch trong toàn xã hội. Bên cạnh đó, các cơ quan chức
năng của Việt Nam cần phải tích cực kiểm soát thông tin sai sự thật, như: xoá
bỏ tin bịa đặt, dán nhãn tin khả nghi, treo/ngưng/khóa các tài khoản chuyên
tung tin thất thiệt, dùng thuật toán để giúp người dùng tăng tiếp xúc với các
nguồn tin chính thống đáng tin cậy về tình hình đại dịch và phòng, chống dịch
COVID-19 trên các mạng xã hội (Facebook, Twitter, YouTube…). Cần xác định ý
thức, năng lực và trách nhiệm xã hội của người tiếp cận với tin giả là yếu tố
quyết định nhất cho sự bền vững của việc kiểm soát và giảm thiểu tác hại xã hội
của tin giả. Do vậy, khi xã hội phải đối đầu với dịch COVID-19, hãy bình tĩnh
để tiếp nhận những thông tin và dữ kiện ở các cơ quan có thẩm quyền, ngay cả
khi nó trái ý hay ngoài mong đợi. Để có thể giảm sự xuất hiện và phát tán những
tin giả, thông tin sai lệch, rất cần ý thức trách nhiệm xã hội và năng lực xử lý
sàng lọc thông tin của mỗi người dân khi tham gia truyền thông xã hội.
Tăng
cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tin giả nói chung và tin giả về dịch
COVID-19 nói riêng. Do dịch COVID-19 là vấn đề khủng hoảng mang tính toàn cầu,
vì vậy đấu tranh phòng, chống tin giả về dịch COVID-19 cũng phải mang tính toàn
cầu. Cần thống nhất quan điểm và hành động, cuộc chiến chống tin giả về dịch
COVID-19 mang tính toàn cầu là biện pháp cần thiết vì sự an toàn xã hội ở tất
cả các quốc gia. Do đó, trong bối cảnh thế giới nhiễu loạn thông tin, việc phối
hợp chặt chẽ giữa các quốc gia để bảo đảm có thể truyền bá thỏa mãn nhu cầu
thông tin chính đáng; hạn chế tính độc hại của thông tin đối với sự phát triển
lành mạnh của xã hội càng trở nên quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên
thế giới.
Tăng
cường nghiên cứu khoa học mang tính liên xuyên ngành: công nghệ thông tin, báo
chí-truyền thông, luật học, tâm lý học, xã hội học để nhận diện được tin giả,
quy luật hình thành và phát triển của tin giả, tác hại của tin giả, các giải
pháp phòng chống, kiểm soát và hạn chế tin giả… Đặc biệt, thúc đẩy các giải
pháp công nghệ, các biện pháp kỹ thuật phù hợp bắt kịp với sự phát triển của
công nghệ thông tin, Internet, truyền thông xã hội. Để những thông tin giả nói
chung và tin giả về phòng, chống dịch COVID-19 nói riêng không in sâu trong
nhận thức của người tiếp cận truyền thông xã hội, cần tăng cường nghiên cứu và
ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các phần mềm chống tin giả. Trí tuệ nhân tạo
có chức năng nhắc nhở người dùng tin tức nào là giả mạo. Hiện nay tại nước Anh,
Logical là công ty đi đầu sử dụng AI để chống lại tin giả. Phương pháp tiếp cận
của Logical gồm ba hướng: nguồn gốc của nội dung, nội dung và siêu dữ liệu liên
quan đến nội dung đó để cung cấp thông tin toàn diện, bổ sung và xác thực được
nội dung. Giải pháp này giúp phân loại những nội dung được nhận định là tin giả
trước khi người dùng có thể đọc được.
Cần có
sự kết hợp giữa “phản ứng cứng” và “phản ứng mềm” trong kiểm soát và hạn chế
tác hại xã hội của tin giả nói chung và phòng, chống tin giả liên quan đến dịch
COVID-19.
“Phản
ứng mềm” là dùng hệ thống pháp luật truyền thống, hệ thống khuyến khích và các
giải pháp kỹ thuật để chống lại tin giả. Các cách thức này ít ảnh hưởng đến
quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt; tạo điều kiện cho tranh luận xã hội; nắm
bắt được phản ứng của xã hội đối với chính sách của Nhà nước dễ dàng, chính xác
hơn. Tuy nhiên, cách thức này cũng tạo ra sự khó khăn, tốn kém trong việc chống
lại tin giả trong những bối cảnh cụ thể.
“Phản
ứng cứng” là ban hành luật chuyên ngành để chống lại tin giả; coi trọng sự can
dự của Nhà nước trong việc chống tin giả. Cách thức này tạo tính răn đe đối với
hành vi đưa tin giả cao hơn. Nếu bộ máy quyền lực công liêm chính, hiệu năng
việc chống tin giả sẽ có hiệu quả cao. Tuy nhiên, sự lạm quyền cách thức “phản
ứng cứng” có thể ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt; phản biện
xã hội có thể gặp khó khăn hơn. Do đó, sự kết hợp giữa “phản ứng cứng và phản
ứng mềm” là phương thức tối ưu để vừa quản lý chặt chẽ, vừa tạo điều kiện tốt
cho sự phát triển lành mạnh, bền vững của các loại hình truyền thông; vừa đảm
bảo các quyền gắn với trách nhiệm xã hội của mỗi con người khi xã hội Việt Nam
đang ngày càng tiến đến xã hội phát triển và hội nhập với thế giới.
Leave a Comment