5 vấn đề xin ý kiến Quốc hội trong Luật Cư trú (sửa đổi)
Sáng 21/10, tiếp tục chương trình phiên họp thứ X, Quốc hội khoá XIV, Quốc hội đã cho ý kiến Luật Cư trú (sửa đổi).
Chỉnh lý 42 điều trong Luật Cư trú
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban
Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho biết, so với dự thảo Luật đã
trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 9, dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã được tiếp
thu, chỉnh lý tại 42 điều, trong đó tập trung: làm rõ phạm vi điều chỉnh của
Luật; chỉnh lý, bổ sung nội dung giải thích một số từ ngữ liên quan đến cư trú;
quy định nguyên tắc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân, nguyên tắc về
quản lý cư trú; rà soát các trường hợp quyền tự do cư trú cần bị hạn chế,
việc bảo đảm thực hiện quyền tự do cư trú và hoạt động quản lý cư trú,các hành
vi bị nghiêm cấm về cư trú; quy định cụ thể hơn quyền, nghĩa vụ của công dân về
cư trú, nghĩa vụ của chủ hộ và thành viên hộ gia đình về cư trú; xác định rõ
nơi cư trú của công dân, bổ sung, làm rõ nơi cư trú của một số đối tượng cụ
thể, nơi cư trú của người không có nơi thường trú, nơi tạm trú; rà soát,
chỉnh lý quy định về điều kiện đăng ký thường trú,quy định rõ từng loại hồ sơ
tương ứng với từng nhóm đối tượng, điều kiện đăng ký thường trú; rút ngắn thời
gian thụ lý và giải quyết thủ tục hành chính; đơn giản hóa thủ tục hành chính,
giấy tờ cho tổ chức và công dân, áp dụng công nghệ thông tin trong việc cung
cấp, cập nhật thông tin về cư trú của công dân; rà soát lại các trường
hợp không được đăng ký thường trú mới, bổ sung địa điểm không được đăng ký
thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ; rà soát quy định về các
trường hợp xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú; quy định rõ các trường
hợp điều chỉnh thông tin về cư trú của công dân trong Cơ sở dữ liệu về cư trú;
chỉnh lý quy định về hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú,các
trường hợp cần khai báo, nội dung, thủ tục khai báo tạm vắng; xác định rõ
hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về cư trú của các cơ quan quản lý nhà nước,
trách nhiệm của cơ quan đăng ký cư trú, trách nhiệm của người làm công tác đăng
ký, quản lý cư trú; trách nhiệm quy định chi tiết về Cơ sở dữ liệu về cư trú và
việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu giữa Cơ sở dữ liệu về cư trú với
các cơ quan, tổ chức, cá nhân; bổ sung trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ
quan ngang Bộ và cơ quan khác có liên quan trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung
các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với quy định của Luật này, hạn chế
việc sử dụng thông tin về nơi cư trú làm điều kiện để thực hiện các thủ tục
hành chính.

Tạo điều kiện đăng ký thường trú cho người dân
di cư tự do
Theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Hoàng Thanh
Tùng, một số ý kiến đề nghị cần có quy định để quản lý những người không có nơi
cư trú ổn định;bổ sung quy định để đăng ký, quản lý cư trú đối với người dân di
cư tự do, nhất là đối với người dân tộc thiểu số du canh, du cư ở khu vực Tây
Bắc, Tây Nguyên. Một số ý kiến băn khoăn về trách nhiệm của chính quyền địa
phương trong việc thực hiện chính sách, bảo đảm an sinh xã hội đối với các đối
tượng này.
“Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, trên
thực tế vẫn có những người không có nơi cư trú ổn định,nhất là những người dân
di cư tự do, sinh sống trong các vùng lõi, vùng đệm của rừng đặc dụng, rừng tự
nhiên ở khu vực Tây Nguyên hay miền núi phía Bắc; trong số họ có nhiều người
không có giấy tờ nhân thân hoặc tài liệu chứng minh có chỗ ở hợp pháp nên không
đủ điều kiện để thực hiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi đang sinh
sống cũng như khi quay trở về nguyên quán.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, để thực
hiện quyền cư trú và quản lý cư trú đối với người dân thuộc trường hợp này cần
có các giải pháp tổng thể cả về kinh tế - xã hội và về pháp luật” – Chủ nhiệm
Uỷ ban Pháp luật nhấn mạnh và cho biết, trong thời gian qua Đảng, Nhà nước ta
đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm ổn định đời sống, trong đó có
việc đăng ký cư trú đối với những người dân di cư tự do.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
22/2020/NQ-CP ngày 1/3/2020 về ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất
có nguồn gốc từ nông, lâm trường; theo đó, phấn đấu đến năm 2025 cơ bản không
còn tình trạng dân di cư tự do, hoàn thành công tác bố trí toàn bộ số hộ dân đã
di cư tự do vào các điểm dân cư theo quy hoạch, hoàn thành việc đăng ký hộ
tịch, cư trú cho các hộ dân di cư tự do đủ điều kiện theo quy định.
“Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Điều
19 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng làm rõ cơ sở pháp lý và thủ tục
để thực hiện việc ghi nhận, xử lý các thông tin cá nhân, thông tin về cư trú
của các đối tượng nói trên nhằm mục đích quản lý chính xác hơn tình trạng cư
trú của công dân, nhất là thông tin về “nơi ở hiện tại”, qua đó, góp phần giúp
công tác quản lý cư trú đượchiệu quả và sát thực tế hơn, tạo cơ sở để các địa
phương bố trí nguồn lực, tổ chức công tác quy hoạch và thực hiện một số chế độ,
chính sách cụ thể đối với nhóm đối tượng này” – ông Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh

Cán bộ làm căn cước công dân cho người dân.
Quy định diện tích tối thiểu để nhập khẩu đối
với nhà cho thuê
Về điều kiện đăng ký thường trú đối với chỗ ở
thuê mượn, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, nhiều ý kiến
nhất trí với nội dung dự thảo Luật là cần quy định mức diện tích bình quân về
chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ làm điều kiện đăng ký thường trú; tuy nhiên, một số
ý kiến còn băn khoăn bởi việc giao HĐND cấp tỉnh quyết định mức diện tích bình
quân về chỗ ở có thể sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử trong thực hiện quyền cư trú
của người dân giữa các địa phương.
Loại ý kiến thứ nhất tán thành quy định một
trong các điều kiện để đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ là
phải bảo đảm diện tích nhà ở tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định
nhưng không thấp hơn 8m2 sàn/người. Mức diện tích nhà ở tối thiểu 8m2 sàn/người
cũng là chỉ tiêu được xác định cần hoàn thành trong năm 2020 được nêu trong
Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và
mức tối thiểu 8m2 sàn/người hoặc cao hơn cũng được đưa thành chỉ tiêu phấn đấu
của hầu hết các địa phương trong cả nước. Đây cũng là ý kiến của Chính phủ và
cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị quy định
ngay trong Luật diện tích nhà ở tối thiểu 8m2 sàn/người là điều kiện để đăng ký
thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ mà không giao cho HĐND quy định mức
diện tích nhà ở tối thiểu cụ thể áp dụng ở từng địa phương để bảo đảm quyền cư
trú của người dân được thực hiện đồng đều, thống nhất giữa các địa phương trên
cả nước.
Do còn ý kiến khác nhau nên Ủy ban Thường vụ
Quốc hội đã thiết kế nội dung quy định về điều kiện đăng ký thường trú đối với
trường hợp có chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ thành 2 phương án tương ứng
với 2 loại ý kiến nói trên tại điểm b khoản 3 Điều 20 của dự thảo Luật để đại
biểu Quốc hội tiếp tục thảo luận, cho ý kiến.
Chủ nhà có cần đồng ý cho người thuê đăng ký
tạm trú?
Về điều 20 về điều kiện đăng ký tạm trú, Chủ
nhiệm Uỷ ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùnh cho biết, nhiều ý kiến còn băn khoăn về
quy định công dân chỉ được đăng ký tạm trú khi được người có nhà ở cho thuê,
cho mượn, cho ở nhờ đồng ý.
“ Qua thảo luận, đa số ý kiến đề nghị không
quy định điều kiện đăng ký tạm trú là phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở
nhờ đồng ý vì quy định này cản trở quyền đăng ký cư trú của công dân, ảnh hưởng
tiêu cực đến công tác quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước.
Khi đồng ý cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì
chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đã đương nhiên chấp nhận cho người thuê, mượn, ở nhờ
được sinh sống thường xuyên ở chỗ ở đó” – ông Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh và cho
biết, để phục vụ công tác quản lý cư trú của Nhà nước, công dân phải thực hiện
việc đăng ký tạm trú và không có cơ sở nào để người cho thuê, cho mượn, cho ở
nhờ được từ chối, cản trở người đang thực tế cư trú thực hiện việc đăng ký tạm
trú với cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mình và
trật tự quản lý nhà nước về cư trú.
Quy định như vậy cũng nhằm nâng cao trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân có nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, góp phần hạn
chế tình trạng cho người lao động ngoại tỉnh thuê, ở nhờ nhà mà không đăng ký,
khai báo dẫn đến khó kiểm soát như hiện nay.
Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cũng cho biết, có
một số ý kiến tán thành quy định như dự thảo Luật đã trình Quốc hội tại kỳ họp
thứ 9 là người đăng ký tạm trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của tổ
chức, cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bởi đây
là quy định của Luật hiện hành. Ý kiến này cho rằng, việc sử dụng chỗ ở hợp
pháp là quan hệ dân sự giữa người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ với người đi
thuê, mượn, ở nhờ, theo đó, khi người đi thuê, mượn, ở nhờ muốn đăng ký tạm trú
vào chỗ ở này thì phải có sự thỏa thuận, đồng ý của người cho thuê, mượn, ở nhờ
chứ không phải đương nhiên được đăng ký tạm trú.
Có cần kéo dài thời gian giữ sổ hộ khẩu giấy?
Theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật thì 2 vấn đề
là: Thủ tục đăng ký tạm trú (Điều 28) và Điều khoản thi hành (Điều 38) cũng
đang có 2 loại ý kiến khác nhau, trong đó
về Điều 38, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và
ý kiến của đa số đại biểu Quốc hội đều tán thành với việc cần chuyển đổi sang
phương thức quản lý cư trú mới và nhất trí quy định Luật sẽ có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2021 như đề xuất và cam kết của Chính phủ, song nhiều ý kiến
đề nghị trong Luật cần có một số quy định có tính chất chuyển tiếp phù hợp để
bảo đảm sự thích ứng kịp thời của các cơ quan nhà nước có liên quan, tránh làm
phát sinh thêm thủ tục, gây khó khăn, phiền hà cho người dân.
Cụ thể, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cho biết,
có ý kiến đề nghị cho phép người dân được tiếp tục sử dụng Sổ hộ khẩu, Sổ tạm
trú đã được cấp cho đến hết ngày 31/12/2022 để chứng minh thông tin về nơi cư
trú. Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú trong trường hợp này không được coi là công cụ quản
lý cư trú như hiện nay mà chỉ đơn thuần là giấy tờ xác nhận nơi cư trú công
dân.
Một số ý kiến nhất trí với quy định như trong
dự thảo Luật đã trình tại kỳ họp thứ 9 là Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hết giá trị kể
từ thời điểm Luật có hiệu lực thi hành là từ ngày 1/7/2021 bởi cho rằngphương
thức quản lý cư trú mới là tiến bộ, cần được thực hiện ngay một cách đồng bộ;
quy định như vậy cũng tạo áp lực để Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương cần
tích cực, khẩn trương hơn nữa trong việc hoàn thành sớm các chỉ tiêu, nhiệm vụ
về xây dựng Chính phủ điện tử.
Đối với gần 30 thủ tục hành chính ở cấp bộ và
hàng chục thủ tục ở các cấp chính quyền địa phương đang có yêu cầu xuất trình
Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan khác có
liên quan sẽkhẩn trương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban
hành có nội dung quy định liên quan đến Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hoặc có yêu cầu
xuất trình giấy tờ xác nhận về cư trú để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy
định của Luật này, bảo đảm có thể thực hiện thông suốt, thống nhất ngay từ ngày
1/7/2021.
Leave a Comment